Bàn về cơ sở khoa học cho việc áp dụng phương pháp chiết tự trong dạy học chữ Hán hiện nay

Khác với các ngôn ngữ ký âm khác, chữ Hán là chữ biểu ý, khó học, khó nhớ, khó viết, hay quên

bởi độ phức tạp của nó. Thế nhưng hiện nay, việc dạy học chữ Hán chủ yếu dạy giống như ngôn

ngữ ký âm, chưa coi trọng và chưa hiểu đúng về chữ Hán. Trong đó, chiết tự là một phương pháp

phân tích các yếu tố cấu tạo hình thể chữ Hán cả ba phương diện hình, âm và nghĩa để đoán biết ý

nghĩa của chữ hoặc của từ tố, được nghiên cứu, ứng dụng trong dạy học chữ Hán gần 2000 năm.

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn đưa ra một số căn cứ khoa học áp dụng phương pháp chiết

tự, giúp người dạy có cái nhìn tổng quan về nội dung dạy học và đối tượng dạy học, từ đó có thể

linh hoạt sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp, giảm gánh nặng cho người học, góp phần khắc

phục một số vấn đề trong dạy học chữ Hán hiện nay, nâng cao chất lượng dạy học.

pdf12 trang | Chia sẻ: phuthai499 | Lượt xem: 3877 | Lượt tải: 5Freedownload
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bàn về cơ sở khoa học cho việc áp dụng phương pháp chiết tự trong dạy học chữ Hán hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ới nét phảy và nét sổ là chữ “tỉnh” (cái 
giếng). Những tiểu tiết này, chỉ cần bất cẩn một 
chút là viết sai.
 (5) Bộ kiện là yếu tố cấu thành cơ bản trong 
chữ Hán, số lượng bộ kiện quá nhiều, chức năng 
bộ kiện không có sự đồng nhất.
Bộ kiện được cấu thành từ các nét viết. Theo 
Hà Cửu Doanh thống kê có, 675 bộ kiện, trong đó 
khá nhiều bộ kiện gần giống nhau, ví dụ như giữa 
bộ miên (宀) và huyệt (穴), bộ sĩ (士) và thổ (土), 
bộ dĩ (已) và kỷ (己). Hơn nữa, nhiều bộ kiện khi 
đứng độc lập viết kiểu khác, khi kết hợp với bộ 
kiện khác cấu tạo nên chữ hợp thể lại viết kiểu 
khác như bộ thủ (扌) và chữ thủ (手), bộ tâm (忄) 
và chữ tâm (心). 
Theo kết quả nghiên cứu của Lý Yên và nhóm 
nghiên cứu, trong 5631 chữ hình thanh, có 246 
chữ có ý nghĩa khác nhau, ký hiệu biểu nghĩa cũng 
không đồng nhất. Ví dụ, với ý nghĩa liên quan đến 
ăn uống, những chữ “吃 (ăn), 嚼 (gặm, nhấm), 喝 
(uống) dùng bộ khẩu (口) để biểu ý, nhưng chữ 
“餐 (đồ ăn), 饮ẩm (uống)” lại dùng bộ thực (食,
饣) để biểu ý. Người học khó mà xác định được 
đâu là ký hiệu biểu âm, đâu là ký hiệu biểu ý.
(6) Chữ Hán là chữ ghi lại từ tố, việc sử dụng 
chữ Hán nào để nghi lại âm tiết cũng là vấn đề khó.
Mỗi chữ Hán là một từ tố. Ngoài việc đọc 
được, viết được, chữ Hán còn liên quan đến cách 
dùng chữ. Phâ