Thực trạng của việc lồng ghép văn hóa trong giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên ở trường Đại học Hồng Đức

Nghiên cứu khoa học (NCKH) giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục đại học vì nó không

những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới thúc

đẩy sự phát triển của nhân loại. Đối với giảng viên NCKH được xác định là nhiệm vụ trọng tâm

quan trọng bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy. Bài viết nghiên cứu thực trạng NCKH của giảng viên bộ

môn tiếng Trung Quốc- Khoa Ngoại ngữ- Đại học Thái Nguyên. Từ việc phân tích thực trạng đề

xuất một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH phát triển mạnh hơn.

Từ khóa: đẩy mạnh, nghiên cứu khoa học, bộ môn tiếng Trung, thực trạng, giải pháp

pdf12 trang | Chia sẻ: chuhaianh234 | Ngày: 19/12/2020 | Lượt xem: 308 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng của việc lồng ghép văn hóa trong giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên ở trường Đại học Hồng Đức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quan đến giao 
tiếp không lời như cử chỉ, thái độ, nét mặt... 
• Nghe và hành động (Audio-motor Units): Giáo viên đưa ra một danh sách các 
yêu cầu hay hướng dẫn (bằng chữ viết hoặc lời nói) để sinh viên thực hiện (Huges, 
1984). Sau vài lần thực hiện hành động sinh viên sẽ nhận ra cách điều chỉnh đúng và 
thiết lập cách cư xử thích hợp. Henrichsen (1998) đưa ra ví dụ: vẫy tay với người lớn 
và trẻ em theo cùng một cách giống nhau là đúng hay sai? 
• Thành ngữ (Proverbs): Thảo luận nội dung những câu thành ngữ phổ biến của 
ngoại ngữ đang học giúp người học hiểu được điểm giống nhau và khác nhau với các 
câu thành ngữ tương đương ở ngôn ngữ mình, cũng như khái niệm đó có ý nghĩa như 
thế nào ở ngôn ngữ bạn (Idrees, 2007). Bằng cách đó người học có thể nhận ra những 
khác biệt chủ yếu ở nền tảng văn hoá và lịch sử của hai ngôn ngữ. 
• Nghiên cứu trong cộng đồng (Ethnographic Studies): Sinh viên có thể đi 
phỏng vấn người bản ngữ về một số chủ đề đã cho sẵn rồi ghi chép, thu âm hoặc quay 
phim. Người học được 'gửi' đến cộng đồng để thu thập thông tin liên quan 
• Câu đố (Quiz): Có thể dùng câu đố để kiểm tra kiến thức và cung cấp thêm 
thông tin liên quan đến văn hóa. Giáo viên có thể đưa ra đáp án, hoặc sinh viên tự tìm 
đáp án qua ti vi, sách báo, v.v. Việc người học có đưa ra được đáp án đúng hay không 
không quan trọng mà cái chính là việc tìm ra câu trả lời sẽ tạo hứng thú cho họ [14]. 
Nói chung, các hoạt động có thể dùng để dạy văn hoá trong giờ ngoại ngữ không 
chỉ giới hạn ở những hoạt động nêu ở trên. Còn rất nhiều phương pháp và chiến lược 
dành cho giáo viên để ứng dụng khai thác văn hoá mục tiêu trong quá trình dạy ngoại 
ngữ. Tuy nhiên, lựa chọn phương pháp nào lại phụ thuộc vào từng đối tượng người 
học. Việc giáo viên xem xét một cách cẩn thận mục tiêu dạy học cũng như "dạy cái gì, 
dạy cho ai và vào lúc nào" (Saluveer, 2004: 47) để lựa chọn và điều chỉnh các hoạt 
động có sẵn, sáng tạo phương pháp dạy văn hoá của riêng mình, từ đó đưa các yếu tố 
văn hoá của ngôn ngữ đó vào giờ học sao cho có hiệu quả nhất. 
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng thành công trong việc đạt được mục đích 
giao tiếp không thể thiếu vắng vai trò của người học. Nếu người học không có ý thức, 
không có sự say mê hay lôi cuốn, họ sẽ tìm thấy những tiết học tẻ nhạt hoặc là tình 
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 
131 
trạng giảng viên giảng, học sinh ngồi dưới lớp kêu ca: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. 
Thêm vào đó, tình trạng lười đọc sách, tìm tài liệu tham khảo, ngại giao tiếp với người 
nước ngoài cũng có thể làm sinh viên mất dần đi hứng thú với môn học. 
Học ngoại ngữ là một hoạt động mang một hàm lượng quan trọng các yếu tố văn 
hóa - xã hội. Văn hóa được truyền đạt và tiếp thu một cách tự nhiên thông qua quá trình 
dạy và học ngoại ngữ và vai trò của văn hóa tịnh tiến theo quá trình tiếp nhận ngoại 
ngữ của người học. Khi thực hành một ngôn ngữ mới, những thói quen mang đậm dấu 
ấn văn hóa có thể là rào cản hoặc thuận lợi cho người học. Bởi vậy, ngoài năng lực 
ngôn ngữ, kiến thức về văn hóa của ngôn ngữ đích là điều không thể thiếu đối với một 
giảng viên dạy ngoại ngữ. 
2.6. Đánh giá bƣớc đầu về việc dạy văn hoá trong các giờ tiếng Anh cho sinh 
viên tại trƣờng Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa 
Kết quả điều tra thông qua phỏng vấn 20 giáo viên dạy Tiếng Anh cho thấy , gần 
100 % giáo viên tiếng Anh cho rằng , văn hoá có vai trò "rất quan trọng" hay "quan 
trọng" trong dạy học tiếng Anh . 100% trong số họ đều thừa nhận việc đưa văn hoá của 
ngôn ngữ đích vào giờ học tiếng Anh mang lại tác dụng kích thích hứng thú học tập của 
sinh viên. Tuy nhiên, nhận thức tích cực ấy chưa thực sự đi vào thực tiễn dạy học một 
cách hiệu quả . Kết quả điều tra phỏng vấn 10 giáo viên dạy các môn kỹ năng Nghe, 
Nói, Đọc Viết cho sinh viên năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba Khoa Ngoại ngữ; 10 giáo 
viên dạy Tiếng Anh cho sinh viên không chuyên, điều tra qua hình thức phiếu khảo sát 
20 giáo viên và gần 100 sinh viên chuyên và không chuyên, tiến hành dự giờ quan sát 6 
lớp Tiếng Anh chuyên và 10 lớp Tiếng Anh không chuyên cho thấy: văn hoá chỉ chiếm 
một vị trí khiêm tốn trong các bài học tiếng Anh, thời gian dành cho dạy văn hoá rất ít 
và trên thực tế , văn hoá chỉ được xem như một dạng kiến thức nền phục vụ cho việc 
học ngoại ngữ mà ở đây là tiếng Anh . Thông thường, giáo viên chỉ nhắc đến những vấn 
đề liên quan đến văn hoá khi chúng xuất hiện trong bài học. Có nghĩa là, giáo viên chưa 
đủ điều kiện tốt nhất để chủ động truyền đạt kiến thức văn hoá cho sinh viên . Thực tế, 
vấn đề văn hóa chỉ được đề cập một cách bắt buộc , sơ lược, thiếu hệ thống và hiệu quả. 
Thậm chí, một số chủ đề văn hoá trong bài học đã bị bỏ qua. Thực tế điều tra cũng cho 
thấy cách phổ biến nhất mà giáo viên sử dụng để truyền đạt nội dung mang tính văn 
hoá của ngôn ngữ đích cho sinh viên là giảng giải và đọc hiểu. Có đến 62,5 % giáo 
viên cho rằng họ"thường xuyên" và 37,5 % cho rằng "thỉnh thoảng" sử dụng cách giảng 
giải và đọc hiểu để „dạy văn hoá‟ . Cách này phổ biến vì đây là cách đơn giản và nhanh 
nhất, ít tốn thời gian, giáo viên không cần phải bỏ công sức chuẩn bị nhiều, nhất là khi 
họ phải tập trung vào nội dung ngôn ngữ, nhiệm vụ chính của họ. Trình bày về văn 
hóa thường xuyên được giáo viên sử dụng đối với sinh viên chuyên ngữ, có tới 83% 
giáo viên được hỏi thường xuyên sử dụng hình thức này để khai thác các yếu tố văn 
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 
132 
hóa trong giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên. Thảo luận cũng là hoạt động thường 
được áp dụng cho dạy văn hoá trong giờ học với tỉ lệ 37,5% “thường xuyên” và 62,5 % 
“thỉnh thoảng” ( kết quả điều tra ). Tiếp theo là , sử dụng Phƣơng tiện nghe nhìn và 
hoạt động Phân vai. Ngoài ra, những hoạt động khác đượ c cho là quá xa lạ và không 
phù hợp với trình độ của người học . Như vậy , đa số giáo viên chỉ áp dụng những 
phương pháp và hoạt động dạy - học tương đối quen thuộc để truyền đạt kiến thức văn 
hoá cho sinh viên. Mặt khác, thực tế điều tra cũng cho thấy nội dung và sự chuẩn bị dạy 
văn hoá chỉ “tình cờ” xuất hiện ở những thời điểm nào đó của bài học chưa phải là vấn 
đề đuợc quan tâm một cách thường trực và hệ thống. 
3. KẾT LUẬN 
Xác định lại mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và vă n hoá ; nâng cao nhận 
thức của cán bộ giảng dạy và sinh viên về sự cần thiết phải đưa văn hoá của ngôn ngữ 
đích vào quá trình học ngoại ngữ là bước đầu tiên quan trọng để thực hiện lồng ghép 
văn hóa trong giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên. Ngoài ra, những ý tưởng về các 
phương pháp mà bài viết này đề xuất cần phải được hiện thực hóa trong quá trình giảng 
dạy. Để cho người học tự đặt mình vào vị trí của người bản ngữ thông qua các hoạt 
động như phân vai, đóng kịch, nghe và hành động; hay yêu cầu họ tham gia tìm hiểu, 
khám phá những khác biệt trong văn hoá thông qua các hoạt động như giải quyết vấn 
đề, đồng hoá văn hoá hoặc trình bày về văn hoá là những hoạt động khả thi và hứa hẹn 
mang lại hiệu quả . Làm được như vậy, giáo viên ngoại ngữ đang mở ra cho người học 
một cánh cửa mới về đất nước và văn hoá của ngoại ngữ mình đang học (Fleet, nd). 
Việc xem văn hoá mục tiêu là một phần trọng yếu của dạy học ngoại ngữ cũng như 
thực sự dành thời gian cho dạy văn hoá sẽ cho phép giáo viên ngoại ngữ có thể gây ảnh 
hưởng tới thái độ của người học đối với nền văn hoá nước ngoài một cách tích cực. 
Càng tin vào vai trò không thể phủ nhận của văn hoá, chúng ta càng nhận thức rõ sự 
cần thiết và tính khả thi của việc lồng ghép văn hoá vào chương trình dạy học ngoại 
ngữ, qua đó đóng góp cho mục tiêu xây dựng năng lực giao tiếp cho người học, mục 
tiêu quan trọng của dạy học ngoại ngữ./. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Bianco, J. L., Liddicoat, A. J. & Crozet, C. (1999). Striving for the Third Place: 
Intercultural Competence through Language Education. Language Australia. 
[2] Fleet, M. (nd). The Role of Culture in Second or Foreign Language Teaching: 
Moving Beyond the Classroom Experience. 
ED491716. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 
133 
[3] Genc, B. & Bada, E. (2005). Culture in Language Learning and Teaching. The 
Reading Matrix. 5.1, 73-84. 
[4] Henrichsen, L. E. (1998). Understanding Culture and Helping Students 
Understand Culture.  
[5] Huges, G. M. (1984). An Argument for Cultural Analysis in the Second 
Language Classroom. In J. M. Valdes (ed.), Culture Bound. Cambridge 
University Press. 
[6] Idrees, A. (2007). Teaching and Learning Culture of a Second Language. 
ng%20Culture%20of%20a%20Second%20Language%20Abdulmahmoud%20I
drees.pdf. 
[7] Jiang, W. (2000). The Relationship between Culture and Language. ELT 
Journal. Vol. 54. No. 4, 328-334. 
[8] Lessard-Colouston, M. (1997). Towards an Understanding of Culture in L2? 
FL Education. The Internet TESL Journal. III. 5. 
[9]  
[10] Lê, T. H. P. (2007). Văn hoá mục tiêu (Target Cultures) với việc dạy và học kỹ 
năng luyện nói tiếng Anh. Bulletin of Science -Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại 
học Huế. Số 4, 73-78. 
[11] Moran, P. R. (2001). Teaching Culture - perspective in practice. Heinle & 
Heinle. Canada. 
[12] Nguyễn, T. M. H. (2007). Developing EFL Learners‟ Intercultural 
Communicative Competence: A Gap to be Fill? Asian EFL Journal. 21. 
[13] Peterson, E. & Coltrane, B. (2003). Culture in Second Language Teaching. 
[14] Saluveer, E. (2004). Teaching Culture in English Classes. Unpublished 
master‟s thesis. University of Tartu. Estonia. 
[15] Sztefka, B. (nd). A Case Study on the Teaching of Culture in a Foreign 
Language. http:///.beta-iatefl.hit.bg/pdfs/case_study.pdf.. 
[16] Thanasoulas, D. (2001). The Importance of Teaching culture in the Foreign 
Language Classroom. 
thanasoulas.html. 
THE REALITY OF CULTURAL INTEGRATION IN 
TEACHING ENGLISH FOR STUDENTS AT HONGDUC 
UNIVERSITY 

File đính kèm:

  • pdf57_2152_2137366.pdf
Tài liệu liên quan